Trang tin trong tuần:
Hiện
nay, rau an toàn là một trong những chương trình trọng điểm
của nền nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Trong những năm
gần đây, phong trào sản xuất rau an toàn đã phát triển mạnh
ở các khu vực ngoại thành như Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn,
Quận 12, v.v...
Các
hộ nông dân trồng rau được tập huấn quy trình sản xuất rau
an toàn, phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM và bước
đầu làm quen với quy trình sản xuất nông nghiệp tốt GAP
(triển khai tại xã Nhuận Đức huyện Củ Chi). Bên cạnh đó,
TPHCM là một thị trường lớn với nhu cầu tiêu thụ rau an toàn
ngày càng cao nên việc sản xuất rau an toàn hứa hẹn đem lại
thu nhập ổn định và tăng mức sống cho bà con nông dân.
Tuy
nhiên, hiện nay người trồng rau đang đứng trước những thách
thức về giá nguyên liệu đầu vào ngày càng tăng, giá cả thị
trường không ổn định do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún,
thiếu sự liên kết trong sản xuất và tiêu thụ…Các Hợp tác xã
(HTX), tổ hợp tác (THT) lần lượt ra đời đã giải quyết phần
nào những khó khăn thách thức trên. Mặc dù vậy, đứng trước
tình hình bước đầu hội nhập kinh tế, thị hiếu tiêu dùng ngày
càng khắt khe về chất lượng, mẫu mã cũng như vệ sinh an toàn
thực phẩm, sự liên kết trong sản xuất rau an toàn cần phải
được tăng cường và củng cố mạnh mẽ và phát triển theo hướng
bền vững.
Để
giải quyết vấn đề cấp bách trên, 6 HTX và Liên tổ hoạt động
trong lĩnh vực rau an toàn trên địa bàn TP (HTX Tân Phú
Trung, HTX Trung Lập, HTX Nhuận Đức, Liên tổ Tân Phú
Trung-Củ Chi; HTX Phước An, HTX Thành Trung-Bình Chánh; HTX
Ngã Ba Giòng-Hóc Môn) đã bước đầu gặp gỡ, cùng nhau trao đổi
kinh nghiệm và tháo gỡ khó khăn. Nhóm liên kết R7 ra đời
(tháng 9/2007) và tiến hành họp định kỳ mỗi tháng 1 lần và
địa điểm luân phiên. Đại diện của HTX Tân Phú Trung được các
thành viên tín nhiệm bầu làm Trưởng nhóm và đảm nhiệm điều
hành hoạt động của nhóm.
Ngày 8/8/2008,
sau gần 1 năm hoạt động, nhóm liên kết R7 tổ chức họp tại
Hội trường Chi cục Phát triển nông thôn nhằm củng cố và đưa
ra phương hướng sắp tới. Các thành viên đã trao đổi sôi nổi,
bày tỏ những bức xúc, khó khăn để cùng nhau giải quyết. Các
vấn đề nổi bật như giá đầu vào tăng cao trong khi giá cả thị
trường không ổn định, sản phẩm rau an toàn nhưng đi vào hệ
thống siêu thị rất ít, phải bán phần lớn RAT ra thị trường
các chợ với giá bằng giá với các rau được sản xuất bình
thường đã gây nhiều ảnh hưởng xấu đến sản xuất RAT của các
HTX hiện nay.
Trước
tình hình này, Chi cục Phát triênn nông thôn đã thống nhất
với nhóm R7 về việc sẽ chuẩn bị tổ chức Hội nghị gặp gỡ giữa
nhóm với các đơn vị thu mua với nhóm R7 có sự tham gia của
Sở Nông nghiệp – Phát triển nông thôn, các Ban ngành Đoàn
thể nhằm tìm ra giải pháp mới cho cây rau an toàn, đem lại
lợi ích cho xã viên và bà con nông dân, góp phần tích cực
vào chương trình CDCCKTNN của Thành phố
Củ
Chi là một trong những địa bàn trọng điểm về sản xuất nông
nghiệp và thực hiện chương trình Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp của Thành phố.
Trong
đó, vai trò của Kinh tế tập thể là rất quan trọng và đang
được sự quan tâm và ủng hộ của Chính quyền địa phương. Hiện
nay, Củ Chi có số lượng HTX Nông nghiệp đông nhất Thành phố
(15 HTX) nhưng một số HTX đang gặp khó khăn hoặc yếu kém.
Một trong những nguyên nhân cơ bản là do sự hạn chế về năng
lực quản lý và điều hành. Vì các cán bộ chủ chốt của HTX đều
xuất phát từ nông dân, chưa quen với việc làm ăn tập thể
theo cơ chế thị trường đòi hỏi có trình độ chuyên môn nhất
định, sự nhạy bén trong kinh doanh v.v…
Nhằm
giúp đỡ các HTX Nông nghiệp ở Củ Chi tháo gỡ khó khăn trên,
ngày 16/7/2008, Chi cục Phát triển nông thôn TPHCM đã phối
hợp với UBND huyện Củ Chi, trường Cán bộ quản lý nông nghiệp
nông thôn II tổ chức lớp tập huấn “Nâng cao năng lực quản lý
và điều hành HTX” cho Ban Chủ nhiệm, cán bộ chuyên môn của
các HTX NN và cán bộ điều hành Tổ hợp tác trên địa bàn huyện
Củ Chi.
Tại
đây, các học viên đã được Tiến sĩ Đinh Công Tiến – Phó hiệu
trưởng trường Cán bộ quản lý nông nghiệp nông thôn II trình
bày về Phương pháp nắm bắt cơ hội kinh doanh và xây dựng
chiến lược kinh doanh, vai trò quan trọng của Ban Chủ nhiệm
HTX trong việc thúc đẩy và phát triển kinh tế HTX đem lại
lợi ích cho xã viên. Bên cạnh đó, Tiến sĩ Đinh Công Tiến
cũng đã trao đổi, thảo luận với các học viên nhằm giải đáp
các thắc mắc cũng như đưa ra các hướng giải quyết khó khăn
mà HTX đang gặp phải. Không khí buổi tập huấn thêm sôi nổi
khi các học viên đưa ra các câu hỏi cho Giảng viên cũng như
các cơ quan quản lý Nhà nước về các vấn đề đang tồn tại ở
các HTX.
Với
thời lượng khá ít ỏi nhưng lớp tập huấn đã phần nào gợi ý
cho các HTX tìm ra hướng đi cho riêng mình cũng như giải
quyết các khó khăn hiện tại. Trong thời gian tới, các buổi
tập huấn như trên sẽ được tăng cường về số lượng, nội dung
cũng như thời gian tập huấn nhằm đáp ứng nhu cầu của các HTX
trên địa bàn huyện Củ Chi nói riêng và TPHCM nói chung. Đây
cũng là một trong những công tác phục vụ chương trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Thành phố. Tuy nhiên, để
đạt được hiệu quả cần có sự quan tâm và ủng hộ quyết liệt
của Chính quyền địa phương cũng như sự phối hợp đồng bộ của
các cơ quan quản lý Nhà nước, các Ban ngành đoàn thể và sự
tham gia nhiệt tình của các HTX
Phát
triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại hóa và bền
vững là bước đi thích hợp của nhiều nước trên thế giới trong
chiến lược phát triển kinh tế. Trên cả phương diện lý luận
và thực tiễn đều cho thấy, không có một công thức phát triển
chung cho quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đối
với tất cả các nước. Mỗi nước có cách đi riêng, tùy theo
những đặc điểm, điều kiện cụ thể của mình.
1. Phát triển
nông nghiệp, nông thôn ở Trung Quốc
Trung
Quốc là nước có nền nông nghiệp lớn và lâu đời nhất thế giới,
đồng thời là một trong những chiếc nôi của nền nông nghiệp thế
giới. Do đó, nền nông nghiệp Trung Quốc đã tích lũy nhiều kinh
nghiệm thâm canh cổ truyền với một hệ thống công cụ sản xuất
thủ công phong phú, đa dạng, tận dụng nguồn lao động dồi dào ở
nông thôn, bảo đảm sản xuất nông nghiệp tự túc, tự cấp có hiệu
quả cao. Kể từ khi tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa đến
nay, nền nông nghiệp Trung Quốc đã có nhiều thay đổi, phát
triển theo hướng hiện đại hóa và bền vững. Kinh tế nông nghiệp
Trung Quốc đã có sự chuyển dịch cơ cấu tích cực nhằm tạo ra
năng suất cây trồng, vật nuôi cũng như hiệu quả lao động cao,
sản xuất nhiều nông sản hàng hóa. Nông nghiệp, nông thôn Trung
Quốc đã có những bước thay đổi to lớn và đạt được những thành
tựu đáng kể, đời sống nông dân được cải thiện từng bước, một
bộ phận dân cư đã có đời sống khá giả.
Là nước có diện
tích đất canh tác khan hiếm và eo hẹp, tỷ lệ lao động trong
nông nghiệp cao, Trung Quốc chủ trương nâng cao hiệu quả sử
dụng đất và cải tạo đất trồng, giải quyết vấn đề dôi dư lao
động. Vì vậy, quốc gia này đã thực hiện thu hẹp kiểu kinh
doanh cần nhiều lao động, mở rộng việc kinh doanh tập trung
vốn và kỹ thuật. Đó là điều có lợi cho nông dân, cho công cuộc
cải cách nông thôn và việc phân bổ tối ưu các nguồn lực trong
sản xuất nông nghiệp. Thực tế cho thấy, phương thức kinh doanh
trên những mảnh ruộng manh mún cổ truyền trước đây không còn
phù hợp với việc thâm canh bằng tập trung vốn và kỹ thuật. Chỉ
có phương thức kinh doanh với quy mô lớn mới tạo tiền đề cho
việc đầu tư nhiều vốn và kỹ thuật nhằm đạt tới một nền sản
xuất hiện đại và bền vững.
Hiện
nay, nông nghiệp vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng và
đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Trung
Quốc. Tổng kết kinh nghiệm 20 năm cải cách và phát triển kinh
tế nông thôn, Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ rõ: "Không có sự ổn
định của nông thôn sẽ không có sự ổn định của cả nước, không
có sự sung túc của nông dân sẽ không có sự sung túc của nhân
dân cả nước, không có hiện đại hóa nông nghiệp sẽ không có
hiện đại hóa của toàn bộ nền kinh tế quốc dân"(1). Đảng Cộng
sản Trung Quốc khẳng định rằng, hiện nay và trong một thời
gian dài nữa, nông nghiệp Trung Quốc vẫn giữ vị trí hàng đầu
trong chiến lược phát triển kinh tế; hiện đại hóa nông nghiệp
là một bộ phận trọng yếu trong tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Quan điểm trên xuất phát từ thực tế là
ở Trung Quốc, nông nghiệp có vai trò mà không một ngành kinh
tế nào có thể thay thế được. Tuy nhiên, trên thực tế, nông
nghiệp Trung Quốc vẫn chưa đạt tới trình độ hiện đại hóa và
bảo đảm sự phát triển bền vững. Vì vậy, hiện đại hóa nông
nghiệp nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển trở thành đòi hỏi
cấp bách hơn bao giờ hết. Trong những năm gần đây, Trung Quốc
đã ban hành một loạt chính sách có lợi cho việc giải quyết vấn
đề "tam nông" như: thực hiện xóa bỏ thuế nông nghiệp và phụ
thu thuế nông nghiệp; trợ cấp cho nông dân sản xuất lương
thực; thực hiện chế độ khám chữa bệnh loại hình mới trong cả
nước, trong đó có việc giải quyết khám chữa bệnh cho nông
dân...
Qua hơn 20 năm
cải cách nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện
đại hóa và phát triển bền vững, Trung Quốc đã thu được những
bài học kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn. Đó là: Bảo đảm
đầy đủ quyền tự chủ, phát huy tính tích cực của nông dân; phát
triển nhiều loại sở hữu kinh tế, trong đó công hữu là chủ thể,
thực hiện sở hữu tập thể đối với ruộng đất kinh doanh khoán
gia đình, tách quyền sử dụng với quyền sở hữu; cải cách theo
hướng thị trường, tạo ra sức sống mới cho kinh tế nông thôn;
xây dựng địa vị chủ thể của trang trại trong kinh doanh tự chủ
của các nông hộ, khuyến khích nông dân phát triển sản xuất
hàng hóa hướng về thị trường; tôn trọng tinh thần sáng tạo của
nông dân, thúc đẩy sự nghiệp cải cách, khoán chế độ trách
nhiệm đến hộ gia đình và phát triển các xí nghiệp hương trấn;
kiên trì đường lối căn bản “từ quần chúng mà ra, đi vào quần
chúng"; coi trọng cao độ nông nghiệp, kết hợp cải cách nông
thôn và cải cách thành thị...
2. Thái Lan
với chiến lược xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao, sức
cạnh tranh mạnh:
Thái
Lan là nước có nền nông nghiệp chiếm địa vị chi phối, dân số
nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước. Nông nghiệp Thái
Lan trong hàng thập kỷ qua đã chứng tỏ vai trò quan trọng, góp
phần tăng trưởng kinh tế, bảo đảm chất lượng cuộc sống cho
người dân. Chính phủ Thái Lan xác định hướng chiến lược là xây
dựng nền nông nghiệp với chất lượng cao, có sức cạnh tranh
mạnh. Do đó, những năm gần đây, Thái Lan tập trung mũi nhọn
phát triển mạnh hàng chế biến nông sản và công nghiệp phục vụ
nông nghiệp. Hiện Thái Lan có tới hơn 1/4 số xí nghiệp gia
công sản phẩm được xây dựng ngay tại nông thôn, nhờ đó đã tạo
dựng sự vững mạnh và ổn định về kinh tế cũng như nâng cao chất
lượng cuộc sống của người nông dân. Bên cạnh đó, Chính phủ còn
chú trọng xây dựng các tổ chức nông nghiệp và phát triển hệ
thống điều hành nông nghiệp và nông thôn trên cơ sở sử dụng
tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý hướng tới
phát triển bền vững.
Để thúc đẩy sự
phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một
số chiến lược như: Tăng cường vai trò các cá nhân và các tổ
chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào
học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng
cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực
nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội
cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm
nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo đảm rủi ro cho nông
dân. Đối với các sản phẩm nông sản, Nhà nước tăng cường sức
cạnh tranh của hàng hóa nông sản bằng việc tăng khả năng tổ
chức và tiếp thị thị trường. Phân bổ khai thác tài nguyên
thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, ngăn chặn tình trạng
khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu
vực mà tài nguyên đã bị suy thoái. Giải quyết tốt những mâu
thuẫn về tư tưởng trong nông dân có liên quan đến việc sử dụng
tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân
bổ đất canh tác. Về xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có
chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình
thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo
đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp
phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong
sản xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với
các dự án thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả
nước.
Một trong những
tiêu chí để phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững và hiện
đại hóa là cơ giới hóa nông nghiệp và áp dụng các quy trình kỹ
thuật sản xuất tiên tiến. Thái Lan chú trọng phát triển cơ
giới hóa nhằm đưa nông nghiệp đi vào thâm canh, cải tạo và xây
dựng nông thôn. Phát triển mạng lưới xí nghiệp cơ khí nhỏ và
vừa của tư nhân ở các thành phố, thị trấn và nông thôn. Khuyến
khích nông dân mua máy móc do các xí nghiệp cơ khí trong nước
chế tạo, có cơ chế bảo hành và sửa chữa miễn phí trong vòng từ
1 đến 3 năm. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu cải tạo đất, áp dụng
công nghệ sinh học để lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; thực
hiện việc chuyển giao công nghệ nuôi cấy phôi; nghiên cứu các
công nghệ bảo quản sau thu hoạch.
Thái
Lan còn chú trọng phát triển các ngành mũi nhọn như hàng nông,
hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế
biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang các
nước khác, nhất là các nước công nghiệp phát triển. Hiện nay,
ngoài mặt hàng xuất khẩu truyền thống như gạo, ngô, cao su,
đường, nông nghiệp Thái Lan còn có nhiều mặt hàng xuất khẩu
mới như hải sản đông lạnh, gia cầm, hoa quả tươi và chế biến
rau xanh và sắn củ. Nhờ có chính sách khuyến khích nông nghiệp
phát triển mạnh, Thái Lan đã đứng đầu thế giới về xuất khẩu
gạo (khoảng 5 triệu tấn/năm), là nước xuất khẩu thực phẩm mạnh
nhất khu vực Đông - Nam Á.
Giáo dục và đào
tạo cũng hướng vào nông nghiệp, nông thôn với các chương trình
đào tạo phát triển kỹ năng cho nông dân và người quản lý đất
đai, quản lý kinh doanh, bảo vệ môi trường và an toàn sức
khỏe. Ngoài ra, còn có những hoạt động đào tạo truyền thống
như tạo công ăn việc làm trong lĩnh vực hoạt động nông nghiệp
nhằm góp phần thu hút lực lượng lao động đông đảo là thanh
niên. Thái Lan thực hiện chính sách "ưu đãi nông nghiệp - nông
thôn - nông dân" nhằm ổn định chính trị - xã hội.
3. Chiến lược
phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Nhật Bản:
Nhật
Bản là nước có diện tích đất đai canh tác có hạn, số lượng
người đông, đơn vị sản xuất nông nghiệp chính tại Nhật Bản vẫn
là các hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính chất của nền văn hóa lúa
nước. Với đặc điểm tự nhiên và xã hội, trong phát triển nông
nghiệp Nhật Bản đã đề ra một chiến lược khôn khéo và hiệu quả,
như tăng năng suất nền nông nghiệp quy mô nhỏ (bằng cách thâm
canh tăng năng suất trên đơn vị diện tích và trên đơn vị lao
động để nông nghiệp Nhật Bản cung cấp đầy đủ lương thực, thực
phẩm cho nhu cầu của nhân dân); dưỡng sức dân, tạo khả năng
tích lũy và phát huy nội lực; thâm canh tăng năng suất; xuất
khẩu nông, lâm sản (nguồn thu ngoại tệ quan trọng) để nhập
khẩu máy móc, thiết bị phục vụ công nghiệp hóa; phi tập trung
hóa công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn, gắn
nông thôn với công nghiệp, gắn nông thôn với thành thị. Những
bước đi thích hợp này là những điều kiện quan trọng để phát
triển nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản theo hướng hiện đại hóa.
Để tạo cơ sở thúc
đẩy nông nghiệp tăng trưởng và phát huy tác dụng máy móc,
thiết bị và hóa chất cho quá trình cơ giới hóa và hóa học hóa
nông nghiệp, tạo năng suất lao động cao cho nông nghiệp, Nhật
Bản đã chú trọng phát triển, xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ
tầng, hệ thống năng lượng và thông tin liên lạc hoàn chỉnh,
phân bổ các ngành công nghiệp chế biến dùng nguyên liệu nông
nghiệp (như tơ tằm, dệt may...), các ngành cơ khí, hóa chất
trên địa bàn nông thôn toàn quốc. Tạo việc làm cho lao động
nông thôn, ngăn chặn làn sóng lao động rời bỏ nông thôn ra
thành thị. Chính phủ Nhật Bản thường xuyên có chính sách trợ
giá nông sản cho các vùng nông nghiệp mũi nhọn.
Phát triển nông
nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững và hiện đại hóa hiện là
xu thế tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế các nước.
Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản đều thực hiện chính sách lấy
nông nghiệp làm nền tảng ổn định xã hội và tích lũy cho công
nghiệp, thu hút vốn đầu tư, phát triển công nghiệp hướng vào
xuất khẩu... làm tăng nhanh tiềm lực kinh tế đất nước. Chiến
lược phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại hóa
và phát triển bền vững của các nước này là bài học kinh nghiệm
để chúng ta tham khảo và học tập.
4. Tại
Singapor:
Singapore
với diện tích quốc gia khoảng 625 km2, dân số hơn 4,4 triệu
người nhưng chỉ có khoảng 5% diện tích đất được sử dụng để
phát triển nông nghiệp. Sản phẩm chủ yếu của nền nông nghiệp
nhỏ bé này là một số loại trái cây nhiệt đới, rau xanh, gia
cầm, lợn, cá, hoa lan, cao su, dừa được gieo trồng và nuôi
dưỡng trong những trang trại hiện đại.
Giá trị tổng sản
phẩm nông nghiệp của Singapore đóng góp vào GDP gần như bằng 0
trong khi các ngành công nghiệp khác chiếm khoảng 32,6%, các
ngành dịch vụ khoảng 67,4%. Tuy nhiên, người Singapore vẫn duy
trì một nền nông nghiệp rất riêng của họ. Với trên 200 trang
trại lớn nhỏ, tổng diện tích đất khoảng 1.500 ha, mỗi trang
trại được bao bọc trong từng khu vực riêng biệt, được trang bị
những phương tiện, phương thức nuôi trồng hiện đại và phù hợp
với từng loại sản phẩm. Trang trại lớn nhất có tên Agrotech
Park nằm phía tây bắc Singapore với diện tích khoảng 858
hec-ta, trồng cây ăn trái, rau xanh, cây cảnh, cá nước ngọt và
dê. Ngoài ra còn có một số trang trại vừa nuôi trồng vừa đưa
vào khai thác du lịch như Trại cá Aqua Fauna, Vườn ươm cây kỹ
thuật cao Chengtai, vườn lan Orchidville, trại cá cảnh Qian
Hu… Sản phẩm của những trang trại này chỉ đáp ứng phần nhỏ nhu
cầu của thị trường nội địa, còn lại đều phải nhập khẩu hoàn
toàn.
Hầu hết khách du
lịch khi đến Singapore đều đi tham quan vườn thú đêm nổi tiếng
Safari, nhưng họ cũng không thể quên được cảm giác trầm trồ,
xuýt xoa khi đến ngắm những giò lan nhiều màu sắc, lạ và độc
đáo tại vườn lan Orchidville. Người dân Singapore rất tự hào
về vườn lan độc đáo và lớn nhất này của mình. Nơi đây có đến
hơn 2 triệu giò lan được ươm trồng, chăm sóc tỉ mỉ và mỗi năm
xuất đi hơn 10 triệu giò lan trên khắp thế giới. Ngoài ra,
khách du lịch có thể choáng ngợp trước một thế giới cá cảnh
với hơn 200 loài quý hiếm và độc đáo chỉ có tại trại cá Qian
Hu.
Tuy không đóng
góp đáng kể vào nguồn GDP chung của quốc gia, nhưng nền nông
nghiệp Singapore đã tiếp sức rất hữu hiệu cho việc phát triển
ngành du lịch, vốn là một thế mạnh của quốc gia này. Ngày nay,
Chính phủ Singapore rất quan tâm đến việc đầu tư nghiên cứu và
phát triển công nghệ sinh học kỹ thuật cao, họ xuất khẩu ra
thế giới những sản phẩm công nghệ mới, tiên tiến, những giống
mới với sản lượng và chất lượng cao phục vụ không chỉ nền nông
nghiệp nội địa, mà còn để hợp tác phát triển với những nền
nông nghiệp của các quốc gia khác.
5. Tại Mỹ:
Vào
những ngày đầu tiên của quốc gia này, hoạt động nông nghiệp đã
giữ một vị trí chủ yếu trong nền kinh tế và văn hóa Hoa Kỳ.
Tất nhiên, nông dân có một vai trò quan trọng trong bất cứ xã
hội nào vì họ nuôi sống mọi người. Nhưng hoạt động nông nghiệp
được đánh giá đặc biệt ở nước Mỹ. Trong giai đoạn ban đầu của
đất nước, người nông dân được coi là khuôn mẫu cho những đức
tính cần thiết trong hoạt động kinh tế như cần cù chịu khó,
sáng tạo, và làm ăn tự chủ. Hơn thế nữa, nhiều người Mỹ - đặc
biệt là những người nhập cư chưa bao giờ có một mảnh đất và
chưa từng có quyền sở hữu đối với sức lao động và sản phẩm của
chính mình - thấy rằng sở hữu một trang trại là chiếc vé để đi
vào hệ thống kinh tế Mỹ. Ngay cả những người đã rời bỏ nông
nghiệp cũng thường sử dụng đất đai như một loại hàng hóa rất
dễ mua và bán để mở ra con đường kiếm lời khác.
Người nông dân Mỹ
nhìn chung đều khá thành công trong việc sản xuất lương thực
thực phẩm. Quả thực, đôi khi sự thành công của họ lại gây ra
vấn đề rắc rối nhất: theo chu kỳ, lĩnh vực nông nghiệp phải
chịu những đợt sản xuất thừa gây sức ép lên giá cả. Với những
chu kỳ dài, chính phủ phải giúp giải quyết ổn thỏa tình trạng
xấu nhất đó. Nhưng trong những năm gần đây, sự trợ giúp như
vậy đã giảm xuống; điều này phản ánh mong muốn của chính phủ
trong việc cắt giảm chi tiêu, đồng thời cho thấy lĩnh vực nông
nghiệp đã giảm bớt ảnh hưởng về mặt chính trị.
Nông
dân Mỹ có khả năng tạo ra sản lượng lớn do nhiều yếu tố. Thứ
nhất, họ làm việc trong những điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận
lợi. Vùng Trung Tây nước Mỹ có đất đai màu mỡ nhất thế giới.
Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước; nước sông
và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi còn thiếu.
Các khoản vốn đầu
tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động có trình độ cao
cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp Mỹ. Ngày
nay, không có gì lạ khi nhìn thấy những người nông dân lái máy
kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những
máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và rất đắt tiền.
Công nghệ sinh học đưa đến việc phát triển những loại giống
chống được bệnh và chịu hạn. Phân hóa học và thuốc trừ sâu
được sử dụng phổ biến (theo các nhà môi trường thì đã quá phổ
biến). Máy tính đi theo hoạt động của trang trại, và thậm chí
công nghệ vũ trụ được sử dụng để tìm ra những nơi tốt nhất cho
gieo trồng và thâm canh mùa màng. Hơn thế nữa, theo định kỳ
các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sản phẩm thực phẩm mới
và những phương pháp mới để phục vụ nuôi trồng, chẳng hạn như
các hồ nhân tạo để nuôi cá.
Tuy vậy, người
nông dân vẫn chưa loại bỏ được một số qui luật cơ bản của tự
nhiên. Họ vẫn còn phải chiến đấu với những thế lực nằm ngoài
sự kiểm soát của mình - đáng chú ý nhất là thời tiết. Mặc dù
khí hậu vùng Bắc Mỹ nhìn chung là ôn hòa nhưng đôi khi vẫn có
lũ lụt và hạn hán. Những thay đổi về thời tiết làm cho nông
nghiệp có chu kỳ kinh tế riêng của mình, và thường không liên
quan đến nền kinh tế nói chung.
Những lời kêu gọi
chính phủ trợ giúp xuất hiện khi có những yếu tố chống lại
thành công của nông dân; đôi khi các nhân tố khác nhau cùng ập
đến đẩy các nông trại đến bên bờ phá sản thì các yêu cầu xin
giúp đỡ đặc biệt tăng mạnh. Ví dụ, trong những năm 1930, sản
xuất thừa, thời tiết xấu, và cuộc Đại khủng hoảng kết hợp xuất
hiện như một khó khăn không thể vượt qua đối với nhiều nông
dân Mỹ. Chính phủ đã khắc phục tình hình bằng những cuộc cải
cách nông nghiệp có ảnh hưởng sâu rộng - đáng chú ý nhất là hệ
thống trợ giá. Sự can thiệp với quy mô lớn chưa từng thấy này
kéo dài cho đến tận cuối những năm 1990, khi Quốc hội dỡ bỏ
nhiều chương trình hỗ trợ.
Vào cuối những
năm 1990, nền kinh tế nông nghiệp của Mỹ vẫn tiếp tục chu kỳ
lên xuống riêng của mình, tăng mạnh vào năm 1996 và 1997, sau
đó lại bước sang giai đoạn đình trệ trong hai năm tiếp theo.
Nhưng đó là một nền kinh tế trang trại khác hẳn so với nền
kinh tế đã từng tồn tại vào đầu thế kỷ này.
Chính sách
nông nghiệp ban đầu
Trong thời kỳ
thuộc địa của lịch sử nước Mỹ, Vương quốc Anh chia đất đai
thành những khoanh lớn để ban cho các công ty tư nhân hoặc cá
nhân. Những người được ban đất lại tiếp tục chia đất đai ra và
bán nó cho những người khác. Khi giành được độc lập từ tay
nước Anh vào năm 1783, những người sáng lập nước Mỹ thấy cần
phải xây dựng một hệ thống phân phối đất đai mới. Họ thống
nhất rằng tất cả đất đai chưa có người sở hữu sẽ thuộc quyền
của chính phủ liên bang, lúc đó chính phủ có thể bán nó với
giá 2,50 USD một a (6,25 USD một hecta).
Nhiều
người bất chấp nguy hiểm và khó khăn để định cư trên những
mảnh đất mới, đó là những người nghèo, và họ thường định cư
như “những người lấn chiếm đất công” mà không có giấy tờ rõ
ràng về mảnh đất của mình. Qua thế kỷ đầu tiên, nhiều người Mỹ
cho rằng đất đai nên được trao không mất tiền cho những người
định cư nếu họ vẫn sống và làm việc trên đó. Điều này cuối
cùng được thực hiện thông qua Đạo luật về đất đai năm 1862,
đạo luật đã mở ra những vùng đất đai rộng lớn miền Tây cho
việc định cư dễ dàng. Một luật nữa cũng được thông qua cùng
năm đó, giành riêng một phần đất đai liên bang để tạo ra thu
nhập dùng vào việc xây dựng các trường đại học, còn gọi là các
trường đại học được ban đất, ở các bang khác nhau. Việc cấp
vốn cho các trường đại học thông qua Đạo luật Morrill tạo ra
những cơ hội mới về giáo dục và đào tạo trong các lĩnh vực kỹ
thuật thực hành, bao gồm cả kỹ thuật canh tác.
Mở rộng sở hữu tư
nhân với các trang trại quy mô vừa phải chưa bao giờ là tiêu
chuẩn ở miền Nam như đối với phần còn lại của Hoa Kỳ. Trước
cuộc Nội chiến (1861-1865), những đồn điền lớn với diện tích
hàng trăm hecta, nếu không muốn nói là hàng nghìn hecta, được
thiết lập để sản xuất thuốc lá, gạo và bông với quy mô lớn.
Các trang trại này được kiểm soát chặt chẽ bởi một số ít gia
đình giàu có. Hầu hết người lao động ở trang trại là nô lệ.
Với việc xóa bỏ chế độ nô lệ sau Nội chiến, nhiều nô lệ trước
đây ở lại trên vùng đất đó như các nông dân làm thuê (còn gọi
là người cấy rẽ) theo các thỏa thuận với những chủ cũ của họ.
Việc cung cấp rất
nhiều lương thực thực phẩm cho công nhân trong nhà máy, công
xưởng và các cửa hàng là yếu tố thiết yếu cho tiến trình công
nghiệp hóa ban đầu của nước Mỹ. Hệ thống đường thủy và đường
bộ phát triển đã mở ra khả năng vận chuyển nông phẩm trên các
tuyến đường dài. Các sáng kiến mới như máy cày rẽ bằng thép
(cần thiết cho các vùng đất cứng ở miền Trung Tây), máy gặt
(một loại máy thu hoạch lúa hạt) và máy liên hoàn (một loại
máy cắt, đập và quạt lúa) đã cho phép các trang trại nâng cao
năng suất. Nhiều công nhân trong các nhà máy và công xưởng của
quốc gia là những người con của các gia đình nông dân mà lao
động của họ không còn cần thiết cho nông trại nhờ thành quả
của những sáng kiến đó. Vào năm 1860, hai triệu nông trại của
quốc gia đã sản xuất dư thừa hàng hoá. Trên thực tế, các sản
phẩm nông nghiệp chiếm 82% hàng hóa xuất khẩu của đất nước
trong năm 1860. Với một ý nghĩa rất thực tế, ngành nông nghiệp
đã tạo ra sức mạnh cho sự phát triển kinh tế Mỹ.
Khi nền kinh tế
trang trại phát triển, người nông dân ngày càng nhận thức được
rằng các chính sách của chính phủ đã tác động đến kế sinh nhai
của họ. Nhóm vận động chính trị cho nông dân đầu tiên, Nghiệp
đoàn nông dân, được thành lập vào năm 1867. Nó phát triển rất
nhanh chóng, và tiếp theo là các nhóm tương tự - như Liên minh
nông dân và Đảng dân tuý. Các nhóm này nhằm mục tiêu vào các
ngành đường sắt, thương nhân và ngân hàng - họ nhằm vào đường
sắt vì cước vận chuyển cao, nhằm vào thương nhân vì những gì
người nông dân cho là những khoản lợi nhuận vô lương tâm bị
lấy đi bởi “những người môi giới”, và nhằm vào ngân hàng vì
những hoạt động tín dụng quá chặt chẽ. Sự khích động chính trị
của nông dân cũng đem lại một số kết quả. Đường sắt và máy
băng chuyền vận chuyển lúa được đặt dưới sự điều tiết của
chính phủ, hàng trăm hợp tác xã và ngân hàng được hình thành.
Tuy nhiên, khi những nhóm nông dân cố gắng định hình chương
trình nghị sự chính trị của quốc gia bằng việc ủng hộ nhà hùng
biện nổi tiếng thuộc Đảng Dân chủ William Jennings Bryan trong
cuộc tranh cử tổng thống vào năm 1896, thì ứng cử viên của họ
đã thất bại. Người dân thành phố và các nhóm lợi ích kinh
doanh ở miền Đông nhìn những yêu cầu của nông dân với con mắt
ngờ vực, sợ rằng các yêu cầu về vay lãi thấp và tín dụng dễ
dàng có thể dẫn đến lạm phát tai hại.
Chính sách
nông nghiệp trong thế kỷ XX
Bất chấp những
thành tích chính trị không có gì nổi bật của các nhóm nông dân
cuối thế kỷ XIX, hai thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX đã trở
thành thời kỳ vàng son của ngành nông nghiệp Mỹ. Giá nông phẩm
rất cao khi cầu về hàng hóa gia tăng và giá trị của đất đai
tăng. Những tiến bộ kỹ thuật tiếp tục nâng cao năng suất. Bộ
Nông nghiệp Hoa Kỳ đã thành lập các trang trại thử nghiệm nhằm
trưng bày các kỹ thuật mới có thể nâng cao sản lượng mùa màng;
năm 1914, Quốc hội lập ra cơ quan Dịch vụ phát triển nông
nghiệp, cơ quan này tuyển mộ một đội ngũ cán bộ để cố vấn cho
nông dân và gia đình họ mọi việc, từ phân bón cho đến các dự
án sửa chữa cải tạo của gia đình. Bộ Nông nghiệp đảm nhiệm
tiến hành các nghiên cứu mới, phát triển những giống lợn tăng
trọng nhanh hơn và đỡ tốn thức ăn hơn, những loại phân bón làm
tăng sản lượng hạt, các loại giống lai cho cây trồng khoẻ hơn,
các phương pháp chữa trị nhằm bảo vệ và cứu chữa cây trồng vật
nuôi chống được bệnh tật, và nhiều phương pháp khác kiểm soát
các loài vật gây hại.
Những năm tốt đẹp
đầu thế kỷ XX chấm dứt khi giá cả giảm xuống sau Chiến tranh
thế giới thứ nhất. Nông dân lại kêu gọi sự giúp đỡ của chính
phủ liên bang. Mặc dù vậy, những lời yêu cầu của họ đã bị bỏ
ngoài tai khi mà phần còn lại của quốc gia - đặc biệt là những
vùng đô thị - đang tận hưởng cuộc sống thịnh vượng của những
năm 1920. Giai đoạn này, người nông dân gặp nhiều thảm họa hơn
cả những thời kỳ khó khăn trước đây bởi vì họ không còn tự
cung tự cấp nữa. Họ phải thanh toán bằng tiền mặt cho máy móc,
hạt giống và phân bón cũng như cho hàng hóa tiêu dùng, trong
khi thu nhập của họ tụt xuống cực kỳ thấp.
Tuy nhiên, không
lâu sau cả quốc gia đã chia sẻ nỗi khó khăn của nông dân khi
đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế sau sự đổ vỡ của thị
trường chứng khoán năm 1929. Đối với nông dân, cuộc khủng
hoảng kinh tế còn trộn thêm cả những khó khăn nảy sinh do sản
xuất thừa. Sau đó, khu vực nông nghiệp còn gặp phải những điều
kiện thời tiết bất lợi cho hoạt động canh tác. Những đợt gió
dai dẳng trong suốt mùa khô hạn kéo dài đã thổi mất đi những
lớp đất mầu mỡ trên bề mặt của một vùng rộng lớn đã từng cho
năng suất cao. Khái niệm “bão bụi” được đặt ra để mô tả những
điều kiện xấu ấy.
Sự can thiệp của
chính phủ được mở rộng trong nền kinh tế nông nghiệp bắt đầu
vào năm 1929, khi Tổng thống Herbert Hoover (1929-1933) thành
lập Ban nông nghiệp liên bang. Mặc dù ban này không thể đáp
ứng những thách thức gia tăng do cuộc Đại khủng hoảng mang
lại, nhưng việc thiết lập tổ chức này thể hiện cam kết quốc
gia đầu tiên nhằm bảo đảm sự ổn định kinh tế nhiều hơn nữa cho
nông dân và đặt ra một tiền lệ về sự điều tiết các thị trường
nông sản của chính phủ.
Trong buổi lễ
nhậm chức tổng thống của mình vào năm 1933, Tổng thống
Franklin D. Roosevelt đã tuyên bố chuyển đổi chính sách nông
nghiệp quốc gia mạnh mẽ hơn so với sáng kiến của Hoover.
Roosevelt đã đề xuất, và Quốc hội đã tán thành, các luật nhằm
nâng cao giá cả nông sản bằng việc hạn chế sản xuất. Chính phủ
cũng chấp nhận và thực hiện một hệ thống trợ giá để bảo đảm
cho nông dân một mức giá “tương đương” gần bằng mức giá có thể
có được trong thời kỳ thị trường thuận lợi. Trong những năm
sản xuất thừa, khi giá cả nông sản thấp hơn mức giá tương
đương, chính phủ chấp nhận mua lượng thừa đó.
Có những sáng
kiến nữa của Chính sách mới để hỗ trợ nông dân. Quốc hội thành
lập Ban quản lý điện khí hóa nông thôn nhằm mở rộng các tuyến
truyền tải điện đến các vùng nông thôn. Chính phủ giúp đỡ xây
dựng và duy tu hệ thống các đường giao thông từ trang trại đến
thị trường để người nông dân cũng như hàng hóa của họ có thể
tới được các thành phố và đô thị thuận lợi hơn. Những chương
trình bảo toàn đất đai nhấn mạnh đến sự cần thiết phải quản lý
hiệu quả đất canh tác.
Đến cuối Chiến
tranh thế giới thứ hai, nền kinh tế trang trại một lần nữa lại
phải đối diện với những thách thức của sản xuất thừa. Các tiến
bộ công nghệ, chẳng hạn như việc đưa vào các máy móc chạy điện
và xăng dầu cũng như việc sử dụng rộng rãi thuốc trừ sâu và
phân hóa học, làm cho sản lượng trên mỗi hecta cao hơn bao giờ
hết. Để giúp tiêu thụ các nông sản thừa gây sức ép lên giá cả
và gây tổn thất tiền bạc của người đóng thuế, năm 1954 Quốc
hội đã tạo nên một chương trình Lương thực vì hòa bình để xuất
khẩu hàng hóa nông sản của Mỹ sang các nước có nhu cầu. Các
nhà hoạch định chính sách lập luận rằng việc xuất khẩu lương
thực như vậy có thể sẽ đẩy mạnh sự tăng trưởng kinh tế của các
nước đang phát triển. Những người theo chủ nghĩa nhân đạo coi
chương trình này như là một cách để nước Mỹ chia sẻ sự dư dật
của mình.
Trong những năm
1960, chính phủ quyết định cũng sử dụng lương thực thừa để
nuôi chính những người nghèo của mình. Trong Cuộc chiến chống
đói nghèo của Tổng thống Lyndon Johnson, chính phủ đưa ra
chương trình Tem phiếu thực phẩm cấp cho những người có thu
nhập thấp các phiếu phân phối có thể dùng để thanh toán lương
thực thực phẩm tại các cửa hàng tạp phẩm. Tiếp theo là các
chương trình khác sử dụng hàng hóa nông sản thừa, chẳng hạn
như các bữa ăn tại trường cho trẻ em có nhu cầu. Các chương
trình lương thực như vậy đã giúp duy trì sự giúp đỡ của thành
phố cho khu vực nông nghiệp trong nhiều năm, và những chương
trình này vẫn là một dạng quan trọng của phúc lợi công cộng -
giành cho người nghèo và theo một nghĩa nào đó cũng cho cả
người nông dân.
Nhưng khi sản
xuất nông trại ngày càng tăng lên suốt trong những năm 1950,
1960 và 1970 thì chi phí của hệ thống trợ giá của chính phủ
cũng tăng lên hết sức mạnh mẽ. Các nhà chính trị ở những bang
không có sản xuất nông nghiệp đã đặt ra câu hỏi về tính khôn
ngoan trong việc khuyến khích nông dân sản xuất nhiều hơn nữa
khi đã đủ - đặc biệt là khi lượng dư thừa gây sức ép lên giá
cả và do vậy lại yêu cầu sự giúp đỡ của chính phủ lớn hơn.
Chính phủ đã thử
một sách lược mới. Năm 1973, nông dân Mỹ bắt đầu nhận được sự
giúp đỡ dưới dạng những khoản tiền thanh toán “thiếu hụt” của
liên bang, được thiết kế để vận hành giống như hệ thống giá
tương đương. Để nhận được những khoản thanh toán này, người
nông dân phải tách ra một số ruộng đất của mình không được sản
xuất, do vậy sẽ giúp giữ giá thị trường. Một chương trình mới
Thanh toán bằng hiện vật, được tiến hành vào đầu những năm
1980 với mục đích giảm chi phí tích trữ lúa, gạo và bông của
chính phủ và nâng cao giá cả thị trường, đã bỏ không canh tác
khoảng 25% đất trồng trọt.
Việc trợ giá và
thanh toán thiếu hụt chỉ áp dụng cho những hàng hóa cơ bản
nhất định như lúa, gạo và bông. Nhiều người sản xuất khác
không được trợ cấp. Một vài nông sản, chẳng hạn như chanh và
cam, bị lệ thuộc vào những hạn chế thị trường công khai. Dưới
cái gọi là những đơn đặt hàng thị trường, lượng nông sản của
cây trồng là mặt hàng tươi bị giới hạn theo từng tuần. Bằng
việc khống chế lượng bán ra, những đơn đặt hàng như vậy nhằm
mục đích nâng giá cho nông dân.
Vào thập kỷ 1980,
chi phí của chính phủ (và cũng là của người đóng thuế) cho
những chương trình như vậy đôi khi vượt quá 20 tỷ USD mỗi năm.
Bên ngoài các khu vực nông trại, nhiều cử tri phàn nàn và biểu
lộ bất bình về việc chính phủ liên bang thực tế thanh toán cho
nông dân chứ KHÔNG cho nông trại. Quốc hội nhận thấy cần phải
thay đổi đường lối.
Năm 1985, theo
yêu cầu của Tổng thống Ronald Reagan về một chính phủ có quy
mô hẹp hơn, Quốc hội đã thông qua một luật mới về nông trại
nhằm mục đích giảm bớt sự phụ thuộc của nông dân vào hỗ trợ
của chính phủ và nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế đối với
hàng hóa nông sản Mỹ. Luật này cắt giảm trợ giá và không canh
tác từ 16 đến 18 triệu hecta đất trồng nhạy cảm với môi trường
trong vòng từ 10 đến 15 năm. Mặc dù luật năm 1985 chỉ tác động
vừa phải đến cơ cấu trợ giúp nông trại của chính phủ nhưng
việc cải thiện các chu kỳ kinh tế đã giúp kiềm chế tổng số
tiền trợ cấp.
Tuy nhiên, khi
thâm hụt ngân sách liên bang tăng cao suốt cuối thập kỷ 1980,
Quốc hội phải tìm mọi cách cắt bớt chi tiêu liên bang. Năm
1990, Quốc hội thông qua luật khuyến khích nông dân gieo trồng
những nông sản mà trước đây họ thường không được nhận các
khoản thanh toán thiếu hụt, và giảm bớt diện tích đất trồng
những loại nông sản mà người nông dân đã có thể được hưởng
thanh toán thiếu hụt. Luật mới này duy trì trợ cấp giá cố định
và cao cho những hàng hóa nhất định, và tiếp tục đẩy mạnh quản
lý nhà nước đối với một số thị trường hàng hóa nông sản.
Điều này đã thay
đổi mạnh mẽ vào năm 1996. Một Quốc hội mới với đa số thuộc
phái Cộng hoà, được bầu ra vào năm 1994, tìm cách làm cho nông
dân từ bỏ dựa dẫm vào sự giúp đỡ của chính phủ. Đạo luật về
quyền tự quyết đối với nông trại đã dỡ bỏ các chương trình trợ
giúp về thu nhập và giá cả tốn kém nhất, đồng thời trao cho
nông dân quyền tự chủ sản xuất đáp ứng thị trường toàn cầu mà
không hạn chế họ cấy trồng bao nhiêu nông sản. Với luật này,
người nông dân nhận được khoản trợ cấp cố định không quan hệ
tới giá cả thị trường. Luật này cũng quyết định bãi bỏ việc
thực hiện trợ giá bơ sữa.
Những thay đổi
này xóa bỏ cơ bản các chính sách từ thời kỳ Chính sách mới nên
nó đi vào cuộc sống không phải dễ dàng. Quốc hội tìm cách làm
dịu bớt căng thẳng của quá trình chuyển đổi này bằng việc cung
cấp cho nông dân 36 tỷ USD thanh toán trong 7 năm mặc dù giá
nông sản ở thời điểm này đang ở mức cao. Việc trợ giá cho lạc
và đường vẫn được giữ nguyên, và những trợ giá cho đỗ tương,
bông và gạo thực tế còn tăng lên. Các đơn đặt hàng của thị
trường về cam và một số nông sản khác rất ít thay đổi. Ngay cả
khi có những nhượng bộ chính trị như vậy đối với nông dân thì
câu hỏi vẫn được đặt ra là liệu có thể kéo dài hệ thống ít bị
kiểm soát hơn này được không. Với luật mới, sự giúp đỡ của
chính phủ sẽ quay trở lại hệ thống cũ vào năm 2002 trừ phi
Quốc hội hành động để giữ giá thị trường và các khoản thanh
toán trợ giúp được tách ra.
Những đám mây đen
mới xuất hiện vào năm 1998 khi cầu về hàng hóa nông sản Mỹ sụt
giảm ở những vùng châu Á đang bị khốn quẫn tài chính nghiêm
trọng; xuất khẩu nông sản giảm mạnh, và giá nông sản, gia súc
bị dìm xuống. Người nông dân tiếp tục cố gắng nâng cao thu
nhập của mình bằng cách sản xuất nhiều hơn, dù cho giá cả có
thấp đi. Năm 1998 và năm 1999, Quốc hội đã thông qua một loạt
luật bảo lãnh nhằm tạm thời gia tăng tài trợ cho nông trại mà
đạo luật năm 1996 đã bãi bỏ. Khoản tài trợ 22.500 triệu USD
năm 1999 thực sự lập ra một kỷ lục mới.
Ngày
12 tháng 6 năm 2008 Chi cục Phát triển nông thôn và UBND 4 xã
chuyển đổi Trung An (Củ Chi), Xuân Thới Sơn, Thới Tam Thôn
(Hóc Môn) và Tân Nhựt (Bình Chánh) đã phối hợp tổ chức buổi
giao lưu kết quả thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp tại xã Trung An Huyện Củ Chi
Mục
đích đánh giá lại kết quả chương trình CDCCKTNN Tại 4 xã qua
gần 2 năm thực, làm cơ sở thúc đẩy việc chuyển dịch theo hướng
giảm diện tích cây trồng kém hiệu quả sang các loại cây trồng
vật nuôi khác có hiệu quả kinh tế hơn, giúp việc triển khai đề
án CDCCKT đạt tiến độ và hiệu quả.
Đến dự hội nghị
có 96 đại biểu tham dự gồm có: đại diện Trung tâm Khuyến nông,
Chi cục BVTV, Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ nông nghiệp, Phòng
Kinh tế các huyện Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn, Ngân hàng Nông
nghiệp Hóc Môn, các Trạm Thú y, Khuyến nông và Bảo vệ thực vật
của các huyện Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Ban Chỉ đạo
CDCCKTNN và một số nông dân tiên tiến của 4 xã chyển đổi.
Lãnh
đạo UBND 4 xã và Chi cục PTNT đã tham gia giao lưu với các đại
biểu. Các nội dung được trao đổi qua hội nghị gồm có:
- Kinh nghiệm
về vận động nhân dân ủng hộ việc giải tỏa đất để làm đường,
biện pháp thực hiện các công đoạn khảo sát, thiết kế, ứng vốn
thi công để đẩy nhanh tiến độ thi công tuyến đường của xã
Trung An (đã hoàn thành 70% tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng).
- Kinh nghiệm
tổ chức hoạt động của Ban chỉ đạo trong chương trình CDCCKT,
đem lại hiệu quả trong việc giải ngân cho bà con nông dân, xây
dựng cơ sở hạ tầng, chuyển một số lớn diện tích lúa, cây trồng
vật nuôi không hiệu quả sang các loại cây trồng vật nuôi khác
có hiệu quả hơn của xã Tân Nhựt.
- Tổ chức hoạt
động của các tổ hợp tác đạt hiệu quả trên địa bàn của xã Xuân
Thới Sơn.
- Giới thiệu
các mô hình sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế trong
CDCCKT xã Thới Tam Thôn.
- Kinh nghiệm
trong việc thực hiện công trình thủy lợi tại huyện Hóc Môn của
nông dân xã Thới Tam Thôn.
- Về giới hạn
số tiền vay vốn và thủ tục vay vốn trong chuyển đổi sản xuất
nông nghiệp của Ngân hàng Nông nghiệp Hóc Môn.
- Về chương
trình khuyến nông năm 2008 phục vụ CDCCKT của TT Khuyến nông.
- Một số ý kiến
về vấn đề tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của TT Tư vấn và HTNN.
Với
nhiều ý kiến tham luận, trao đổi sôi nổi rất thực tiễn trong
hội nghị đã làm sáng tỏ được nhiều vấn đề, đòi hỏi có nhiều
chủ trương hơn nữa của nhà nước để giúp chương trình
CDCCKTNN 4 xã nói riêng và các xã phường chuyển đổi khác nói
chung đạt hiệu quả cao hơn.
